Tìm tour

Địa điểm du lịch

Trà Vinh

Trà Vinh là tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam.
Trung tâm tỉnh lỵ là thành phố Trà Vinh, nằm trên Quốc lộ 53, cách Thành phố Hồ Chí Minh gần 200 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km. Thành phố Trà Vinh có quyết định thành lập trên cơ sở thị xã Trà Vinh từ tháng 3 năm 2010.
 
 
Tập tin:Đền thờ Bác Hồ ở Trà Vinh.jpg
 
Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở xã Long Đức, thành phố Trà Vinh (tỉnh Trà Vinh, Việt Nam).
Địa lý :
Vị trí địa lý:
Trà Vinh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long; vị trí địa lý giới hạn từ 9°31'46" đến 10°4'5" vĩ độ Bắc và từ 105°57'16" đến 106°36'04" kinh độ Đông. Trà Vinh cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km đi bằng quốc lộ 53, khoảng cách chỉ còn 130 km nếu đi bằng quốc lộ 60, cách thành phố Cần Thơ 95 km. Được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu với 02 cửa Cung Hầu và Định An nên giao thông đường thủy có điều kiện phát triển
 
 
Trà Vinh là tỉnh duyên hải Đồng bằng sông Cửu Long, phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp Vĩnh Long, phía Nam giáp Sóc Trăng, phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre, có 65 km bờ biển.
 
 
Địa hình:
Trà Vinh nằm ở phần cuối cù lao kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu. Địa hình chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với độ cao trên dưới 1m so với mặt biển. ở vùng đồng bằng ven biển nên có các giồng cát, chạy liên tục theo bình vòng cung và song song với bờ biển. Càng về phía biển, các giồng này càng cao và rộng lớn.
Do sự chia cắt bởi các giồng và hệ thống trục lộ, kinh rạch chằng chịt, địa hình toàn vùng khá phức tạp. Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cao, xu thế độ dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Riêng phần phía nam tỉnh là vùng đất thấp, bị các giống cát hình cánh cung chia cắt thành nhiều vùng trũng cục bộ, nhiều nơi chỉ ở độ cao 0,5-0,8 m nên hàng năm thường bị ngập mặn 0,4-0,8 m trong thời gian 3-5 tháng.
 
Sông ngòi :

Tập tin:Kênh Trà Vinh.jpg

Kênh trong thành phố Trà Vinh
 
Trên địa bàn Trà Vinh có hệ thống sông chính với tổng chiều dài 578 km, trong đó có các sông lớn là sông Hậu, sông Cổ Chiên và sông Măng Thít. Các sông ngòi, kênh rạch trên địa bàn Trà Vinh hợp lưu đổ ra biển chủ yếu qua hai cửa sông chính là cửa Cổ Chiên hay còn gọi là cửa Cung Hầu và cửa Định An.
Khí hậu:
Nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Trà Vinh cũng có những thuận lợi chung như: có điều kiện ánh sáng bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và ổn định, Tuy nhiên, do đặc thù của vùng khí hậu ven biển tỉnh Trà Vinh có một số hạn chế về mặt khí tượng như gió chướng mạnh, bốc hơi cao, mưa ít. Trà Vinh nằm trong vùng nhiệt đới có khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình từ 26 - 27OC, độ ẩm trung bình 80 - 85%/năm, ít bị ảnh hưởng bởi bão, lũ. mùa mưa từ tháng 5 - tháng 11, mùa khô từ tháng 12 - tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình từ 1.400 - 1.600 mm có điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư sản xuất, kinh doanh và du lịch .
Hàng năm Hạn hán thường xảy ra gây khó khăn cho sản xuất với số ngày không mưa liên tục từ 10 đến 18 ngày, trong đó các huyện như Cầu Kè,Càng Long, Trà Cú là các huyện ít bị hạn. Huyện Tiểu Cần hạn đầu vụ khoảng tháng 6 và tháng 7 là quan trọng trong khi các huyện còn lại như Châu Thành, Cầu Ngang, Duyên Hải hạn giữa vụ nhưng tháng 7 và 8 thường nghiêm trọng hơn.
 
Lịch sử:
Tập tin:Bảo tàng Khmer ở Trà Vinh.jpg
 
Bảo tàng văn hóa dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh tọa lạc tại khóm 4, phường 8, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, Việt Nam.
Thời nhà Nguyễn, Trà Vinh là tên 1 huyện (trước đó là phủ) thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long được lập ra năm 1832.
Vùng đất và tên gọi "Trà Vang", tiền thân của tỉnh Trà Vinh sau này đã có từ trước khi Chúa Nguyễn lập Châu Định Viễn, dựng Dinh Long Hồ vào năm 1732. Như vậy, lúc bấy giờ đất Trà Vinh thuộc Châu Định Viễn.
Năm 1802, sau khi lên ngôi, vua Gia Long bắt tay ngay vào việc sắp xếp và phân định lại ranh giới các đơn vị hành chính trên toàn quốc. Từ đó, Gia Định phủ được đổi thành Gia Định Trấn. Lãnh thổ Gia Định Trấn được phân chia thành 4 dinh và 1 trấn phụ, vùng đất Trà Vinh lúc này thuộc Dinh Vĩnh Trấn.
Năm 1803, Vua Gia Long cho lập địa đồ các dinh thuộc Gia Định Trấn và đổi Dinh Vĩnh Trấn thành Dinh Hoằng Trấn. Vùng đất Trà Vinh lúc này thuộc Dinh Hoằng Trấn.
Năm 1808, Gia Long đổi Gia Định Trấn thành Gia Định Thành, Dinh Vĩnh Trấn được đổi thành Trấn Vĩnh Thanh. Lúc bấy giờ, vùng đất Trà Vinh thuộc Trấn Vĩnh Thanh.
Năm 1825, vùng đất Trà Vinh được Vua Minh Mạng lập thành Phủ Lạc Hóa trực thuộc Gia Định Thành gồm hai huyện Trà Vinh và Tuân Mỹ.
Đến năm 1832, Trấn Vĩnh Thanh được đổi tên là Trấn Vĩnh Long. Sau đó, Vua Minh Mạng cho đổi các trấn thành tỉnh. Vùng đất Nam Bộ được chia thành sáu tỉnh, gọi là "Nam Kỳ lục tỉnh" gồm: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Lúc này, Trà Vinh là một huyện thuộc Phủ Lạc Hóa tỉnh Vĩnh Long.
Năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định phân chia toàn bộ Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn. Trên cơ sở phân chia đó, khu vực hành chính lớn Vĩnh Long gồm 4 tiểu khu: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Sa Đéc. Tiểu khu Trà Vinh là tiền thân của tỉnh Trà Vinh sau này.
Trà Vinh được thành lập theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương trên cơ sở đổi tên gọi tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement) thành tỉnh (province), kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900. Trà Vinh là 1 trong 20 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ.
Dưới thời Pháp thuộc, Trà Vinh gồm 8 quận bao gồm Càng Long, Cầu Ngang, Cầu Kè, Châu Thành, Long Toàn, Tiểu Cần, Trà Cú và Trà Ôn.
Ngày 27 tháng 6 năm 1951, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ thuộc chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định nhập 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Trà. Huyện Tiểu Cần được nhập vào huyện Càng Long. Tỉnh Vĩnh Trà tồn tại đến năm 1954.
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã nhập tỉnh Tam Cần vào tỉnh Trà Vinh, lập ra tỉnh Vĩnh Bình theo Sắc lệnh 143-NV của Tổng thống ngày 22 tháng 10 năm 1956.
Tuy nhiên, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi này mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Trà Vinh.
Tháng 2 năm 1976, Trà Vinh hợp nhất với Vĩnh Long thành tỉnh Cửu Long mãi cho đến ngày 26 tháng 12 năm 1991 mới tách ra như cũ. Khi tách ra, tỉnh Trà Vinh có diện tích 2363,03 km², dân số 961.638 người.
 
Văn hóa - Du Lịch:
 
Ao Bà Om :thuộc khóm 3, phường 8, thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, nằm dọc theo quốc lộ 53, cách trung tâm thị xã Trà Vinh khoảng 7km về hướng tây nam. Ao Bà là một thắng cảnh nổi tiếng của Trà Vinh và khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Ao hình chữ nhật, dài khoảng 500m, rộng 300m, Mặt nước ao trong và phẳng lặng. Xung quanh ao là gò cát cao rợp bóng cây cổ thụ sao, dầu; rất nhiều cây với phần rễ trồi lên mặt đất tạo thành những hình dạng độc đáo. Không khí quanh ao trong lành và mát mẻ. Ðến đây bạn sẽ được nghe những truyền thuyết ly kỳ và hấp dẫn về ao Bà Om.
 
Tập tin:Ao Bà Om.jpg
 
Ao Bà Om là một trong những danh thắng của tỉnh
 
Tuy là vùng đất trẻ nhưng Trà Vinh có kho tàng văn hoá đa dạng, đặc biệt là văn hoá vật thể và phi vật thể của người Khmer. Người Khmer có chữ viết riêng, các lễ hội truyền thống như Chol chnam thmay (mừng năm mới), Dolta (lễ cúng ông bà), Ok Om Bok (lễ cúng trăng), Dâng bông, Dâng phước và các phong tục tập quán có giá trị văn hoá khác của người Kinh, người Hoa như Lễ hội nghinh Ông tại Mỹ Long (lễ hội nghinh ông diễn ra vào ngày 10 đến 12 tháng 5 hằng năm), Vu lan thắng hội, Tiết Trùng Cửu,...
Người Khmer còn xây dựng trên địa bàn Trà Vinh nhiều chùa có kiến trúc độc đáo và hoà quyện thiên nhiên, tiêu biểu là chùa Âng, toạ lạc tên khu đất rộng 4 ha, trong thắng cảnh Ao Bà Om.Theo thống kê trên địa bàn Trà Vinh có tới 140 chùa Khmer, vượt xa số lượng của người Kinh, người Hoa và của các dân tộc khác hiện có trên địa bàn Trà Vinh cộng lại.
 
Tập tin:Chùa Ông Mẹt.jpg
 

Chùa Kompong Ksan ở trung tâm thành phố Trà Vinh

Tập tin:Chùa Hang ở Trà Vinh.jpg
 
Chùa Kompông Chrây (chùa Hang) ở huyện Châu Thành, Trà Vinh
 
Ngoài ra có chùa Hang, ở khu đất 10 ha với những cây cổ thụ xum xuê rộn tiếng chim gọi bầy; chùa Nôdol còn gọi là chùa Cò vì trên khuôn viên chùa rộng 3 ha đã hơn 100 năm nay trở thành nơi cư trú của hàng ngàn con cò và nhiều loại con chim quý khác; chùa Samrônge, tương truyền được xây dựng lần đầu vào năm 642 và xây dựng lại năm 1850 với nhiều biểu tượng bằng đá quý và những tấm bia cổ khắc chữ Khmer.
Lễ hội cúng ông (Quan Công, địa phương gọi là "ông bổn") của người Hoa vào rằm tháng 7 hàng năm tại huyện Cầu Kè.
Vài nơi tập trung khu xóm theo Thiên Chúa Giáo như Bãi San, Đức Mỹ... Nhà thờ tại thành phố Trà vinh có kiến trúc đẹp và cổ điển. Giáo xứ Nhị Long huyện Càng Long có Cha cố rất trẻ thụ phong Linh mục lúc 28 tuổi (Cha Sơn).
 
Tập tin:Chợ Trà Vinh.jpg

 

Tập tin:Đường phố ở TX.Trà Vinh.jpg

Một trong những đường phố nhiều Cây Cổ Thụ ở TP

 ĐẶC SẢN TRÀ VINH 

Bánh tráng Trà Vi 

Hai bên đường dẫn vào xóm Trà Vi là những vỉ bánh mới ra lò đang được hong phơi trắng xóa cả một vùng. Tiếng bánh tráng “chuyển mình” khô trên vỉ phơi kêu lắc rắc, âm vang đều đặn cả xóm nhỏ nhe náo nức vui tai.
Nguyên liệu chủ yếu để làm bánh tráng chỉ có gạo trắng ngâm rồi đổ cối xay thành bột. Hạt gạo làm bánh qua nhiều công đoạn: xay bột xong phải “lược” qua rây thật dầy để loại bỏ mài cám.Bột rây rồi đem “rộng” nước một đêm rồi tẻ ra cho vào “diệm”. Cái diệm là vật chứa bằng sành đựng khoảng 7 lít nước. Bột vừa tẻ xong đem pha với nước trong sao cho không lỏng không đặc, sau đó đổ nước muối vào khuấy đều lên. Nước muối cũng cho vừa phải nhưng nếu nhạt quá thì bánh không có độ dai sẽ bị lục, bở nát. Liều lượng bao nhiêu thì không có con số cụ thể chỉ ước lượng bằng mắt, nghĩa là pha chế theo kinh nghiệm, dần dần quen mắt quen tay trở thành chính xác.
Thợ làm bánh lâu năm pha trộn bột thật tài tình, nhưng không chỉ cho cụ thể phải làm như thế nào là chuẩn. Tất nhiên cũng phải hỏng đôi lần mới thành công được.
Dụng cụ dùng để tráng bánh cũng quyết định bánh ngon hay dở, dày hay mỏng. Nó được goi là “giá” tráng bánh, là bằng gáo dừa mun đen có tay cầm. Người thợ tráng bánh phải chọn lọc trong hàng thiên dừa khô để tìm cho được chiếc gáo dừa phù hợp tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa là vừa thật to vừa bằng đáy. Nếu lồi lõm chỉ một vệt thôi thì bánh tráng ra cũng không đạt yêu câu mỏng đều dầy đều.
Không biết vì sao không ai chịu thay thế giá trang bánh bằng kim loại hay bằng nhựa cứng. Hóa ra những thứ đó tuy dễ chế tạo về hình thức nhưng đến khi dùng tráng bánh thì bột bị dính vào giá không trơn nên bánh bị rách thủng.
Nồi hấp bánh được đậy nắp dương bằng là dừa nước nình nón, nắp đậy này có thuận lợi là không có khả năng làm cho nước hội tụ lai, tránh cho tấm bánh bị mục.
Bánh được hấp rất nhanh, chỉ mất độ nửa phút mỗi chiếc. Sau khi bánh chín người ta dùng cây “dầm” với bánh giống như cây đũa bếp dở bánh lên từ từ rồi xếp thứ tự lên “vỉ” phơi. Mỗi vỉ phơi dài chừng 2,5m phải đủ 5 tấm bánh ướt. Mỗi lò bành phải chuẩn bị tới hàng trăm vỉ phơi (còn gọi là phên bằng tre đan thưa), hàng ngày phơi từ 1.000 đến 1.200 tấm.
 
 
Vốn bỏ ra làm bánh đều được chủ vựa bánh ở chợ Trà Vinh bỏ đầu tư ứng trước. Bánh làm ra đến đâu tiêu thụ đến đó, ít khi bị tồn đọng. Nhận gần hết bánh, lại đưa tiếp vốn mới. Hầu hết chủ vựa bánh ở Trà Vinh đều lấy bánh tráng sản xuất từ đây.
Bánh tráng tuy không phải là món ăn chính nhưng không có bánh tráng thì cao lương mỹ vị hảo hạng cũng kém ngon. Có rất nhiều món ăn được làm cùng với bánh tráng.
Bánh tráng cuộn với tép luộc hoặc thịt ba rọi, bì, tai heo kèm rau sống các loại, chấm với nước mắm chua thì ngon hết chỗ nói. Hoặc là bánh tráng cuốn làm chả giò chiên vàng, ăn một lần nhớ mãi bởi có hương vị riêng biệt. Chả giò rế chỉ lạ nhưng sao giòn đậm bằng thứ bánh tráng nổi tiếng lâu đời này.
Trong bữa tiệc dù lớn hay nhỏ ở gia đình, dịp lễ hội hàng năm hoặc Tết nguyên đán có thể có sự góp mặt của bánh Trà Vi. Xóm bánh tráng Trà Vi truyền thống nằm kề liền thắng cảnh Ao Bà Om càng làm cho nhiều người tìm đến hỏi mua về làm quà cho bạn bè ở xa sau một chuyến picnic.

 

Tôm khô Vinh Kim

 

Tôm khô Vinh Kim nổi tiếng nhất Trà Vinh và hầu như ít có nơi nào sánh kịp dù sản lượng ở nơi khác gấp năm, bảy lần hơn xứ này. Bây giờ có cả một hợp tác xã chuyên sản xuất tôm khô mang thương hiệu Vinh Kim, có khả năng cung ứng cho thị trường vài trăm tấn tôm khô mỗi năm. Nhưng trong suốt 30 năm qua, hàng của Bà Hai Khâm ở ấp Chà Và, xã Vinh Kim (huyện Cầu Ngang - Trà Vinh) vẫn nức tiếng.
Tôm khô của bà Hai Khâm bán ra với giá cao so với mặt hàng cùng loại dù mã hàng không “màu mè” như những loại khác. “Tôi không dùng phẩm màu” - bà nói: “Hàng tui làm, chỉ cậy vào tép bạc đất. Tép phải tươi và được phân cỡ kỹ lưỡng. Độ mặn trong sản phẩm phải vừa phải. Độ khô sản phẩm phải đạt mức cao nhất…” Làm như cách của bà thì không lời nhiều nhưng khách sẽ vừa bụng. Còn muốn làm cho tôm khô đẹp hơn bằng cách thêm phẩm màu, tăng độ mặn (tôm giữ nước do tự hút ẩm). Thậm chí có thể đem tôm khô nhúng nước rồi phơi lại tới độ khô vừa phải, da tôm khô sẽ đẹp và sáng bóng… nhưng tôm sẽ mất vị ngọt và mùi thơm đặc trưng. Thôi thì mình cứ làm theo kiểu cũ chứ lợi cho mình mà sản phẩm không để lâu được, ăn mất ngon thì uổng lắm – bà Hai nói. Chỉ đơn giản vậy thôi mà tôm khô của bà Hai Khâm làm ra bao nhiêu bán hết bấy nhiêu, muốn mua số lượng vài trăm ký lô là phải đặt hàng trước cả tháng. Hiện tại, giá tôm khô loại I của bà Hai Khâm bán 500.000 – 600.000 đồng/kg, loại nhỏ nhất 200.000 đồng/kg. Giá “cứng”như vậy nhưng hàng không ra nổi tới chợ, khách vô tới nhà mua hết ráo. Anh Đào Ngọc Tứ, từ Mỹ về, nói: Lần nào về thăm gia đình ở TX Trà Vinh, tôi cũng mua tôm khô Vinh Kim, chính gốc từ lò của bà Hai Khâm mới được. Bà Hai có bí quyết gì vậy? “Bí quyết gì chứ! Tui chỉ chọn tép thiệt tốt và làm cho đàng hoàng chứ đừng có ham làm cho màu mè, nặng cân để lời nhiều”.
 
 
“Không biết mai mốt bà con mình còn được nếm con tôm khô của xứ Vinh Kim hay không”- bà Hai Khâm (Trần Thị Khâm) nói: Từ hồi vùng này đắp đập, nguồn nguyên liệu trời cho: Tép bạc đất ở vùng nước lợ Cầu Ngang bị cạn kiệt từ từ.
 

Trái quách

Có thể nói, khắp Đồng bằng sông Cửu Long rất ít nơi trồng được trái quách. Quách là loại cây cao khoảng 7- 10m, lá nhỏ, thuộc họ bằng thăng, dễ trồng trên vùng không ngập nước, trồng khoảng 4 năm thì cho trái. Trái quách hình tròn, da cám, khi chín ruột có màu đen và rất nhiều hột nhỏ bằng đầu đũa ăn.
Trồng quách sướng cái là trái chín không cần phải trèo lên cây hái. Quách bắt đầu chín thì tự rụng. Dù rơi từ trên cao xuống nhưng quách không dập vỡ vì vừa chớm chín, trái còn rắn.Vào tháng Giêng, tháng Chạp ta là mùa quách chín. Khi vừa chín tới, quách tỏa hương thơm quyến rũ khứu giác nhiều người. Trái quách thoạt trông như một quả bưởi chai, da mốc không có dáng hấp dẫn nhưng lại có hương vị đặc trưng: vị ngọt ghé chua thanh, hương thơm ngào ngạt. Để thêm chừng vài ba ngày hoặc tuần lễ thì quách chín rục. Vỏ trái chuyển sang màu bạc trắng, mềm, cầm dao xẻ nhẹ đã thấy những hột nhỏ li ti sậm một màu tím. Dùng muỗng múc ruột quách cho vào ly, thêm đường, sữa cùng nước đá bào, ta sẽ có một thứ nước giải khát lạ miệng. Múc một muỗng quách cho vào miệng, mùi thơm phảng phất lên cánh mũi, vị chua thanh làm mặt lưỡi tê mê. Rồi vị ngọt của đường, vị béo của sữa thật là dễ chịu. Sảng khoái nhất là khi thưởng thức trái quách vào những trưa hè oi bức. Quách cũng có thể ăn non bằng cách đập, cạy lấy cơm chấm muối ớt. Quách non có vị chát chát, chua chua giống như ổi.
 
 
 
Hiện nay, cây quách chỉ còn trồng rải rác trong các phum sóc trên giồng đất của người Khmer ở Trà Vinh, Sóc Trăng, nhưng nhiều nhất là ở Trà Vinh. Mỗi nhà chỉ trồng vài cây quanh hè. Có lẽ quách là thứ cây không có hiệu quả kinh tế cao, không thể phát triển đại trà nên hiếm hoi.
 

Chù ụ Ba Động 

 
Biển Ba Động, Trà Vinh trong mấy năm gần đây thu hút lượng du khách đáng kể bởi vẻ đẹp còn hoang sơ của nó. Bờ biển dài với nhiều động cát đẹp, hàng dương gió vi vu mát rượi. Ở đây còn có nhiều món đặc sản lạ vùng biển như chù ụ.
Chù ụ - nghe đã thấy lạ. Nhưng không buồn, không quạu mà… ngon. Chù ụ thuộc họ với cua, còng, ba khía… nhưng hình dáng bên ngoài ù lì hơn, di chuyển cũng chậm chạp - điều này hợp tên gọi của nó.
 
 
Có nhiều cách chế biến món ăn, đơn giản nhất là nướng trên vĩ than, chấm muối ớt, bộc lộ tính hoang dã của ẩm thực vùng biển Nam bộ. Chù ụ có thể luộc hoặc hấp bia. Mùi vị nghe lạ lắm, khác với các con kể trên cùng họ hàng. Hoặc có thể rang me để ăn cơm…
Nếu chưa đến với biển Ba Động, Trà Vinh, ghé thử một lần để mà thưởng thức chù ụ.

 

CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH LIÊN QUAN

Khách hàng thân thiết

CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH THIÊN NHIÊN (NATURE TOURIST.,JSC)

ĐOẠT GIẢI THƯỞNG TOPFIVE 2011 & 2012 THƯƠNG HIỆU HÀNG ĐẦU TP. HCM
(Licence No: 79-070/2010/TCDL-GP LHQT cấp năm 2008)

 
Trụ sở chính:

info@1travel.com.vn
  (+84-28) 62611513 - 62611523
  (+84-28) 62611532
  1356 Đường 3/2, Phường 2, Quận 11, Tp.HCM

 
Chi nhánh:

1travel.com.vn@gmail.com
  (+84-28) 62980777 - 62980888
  (+84-28) 62680999
  365 Trần Phú, Phường 8, Quận 5, Tp.HCM

    

Lượt truy cập:

 
Văn phòng đại diện tại Thái Lan - WanThai Travel

wanthai888@gmail.com
  +66 76367187
  +66 76367197
  25/81 Moo 1 Chaofa Road Thambon Chalong Muang Districh Phuket, 83000 Thailand
HOT LINE
1900636778