Tìm tour

Địa điểm du lịch

Cao Bằng

Cao Bằng là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía nam giáp Bắc Kạn và Lạng Sơn. Phía bắc và phía đông giáp các địa cấp thị Bách Sắc và Sùng Tả của Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc).

Địa lý
Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam. Hai mặt Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), với đường biên giới dài 333.403 km. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Phía nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn. Theo chiều Bắc- Nam là 80 km, từ 23°07'12" - 22°21'21" vĩ bắc (tính từ xã Trọng Con huyện Thạch An đến xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm). Theo chiều đông- tây là 170 km, từ 105°16'15" - 106°50'25" kinh đông (tính từ xã Quảng Lâm, huyện Bảo Lâm đến xã Lý Quốc, huyện Hạ Lang).
Tỉnh Cao Bằng có diện tích đất tự nhiên 6.690,72 km², là cao nguyên đá vôi xen lẫn núi đất, có độ cao trung bình trên 200 m, vùng sát biên có độ cao từ 600- 1.300 m so với mặt nước biển. Núi non trùng điệp. Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh. Từ đó hình thành nên 3 vùng rõ rệt: Miền đông có nhiều núi đá, miền tây núi đất xen núi đá, miền tây nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm.
Trên địa bàn tỉnh có hai dòng sông lớn là sông Gâm ở phía tây và sông Bằng ở vùng trung tâm và phía đông, ngoài ra còn có một số sông ngòi khác như sông Quây Sơn, sông Bắc Vọng, sông Nho Quế, sông Năng, sông Neo hay sông Hiến.
 

Bản Đồ Địa Lý Cao Bằng

Bản Đồ Thành Phố Cao Bằng

Lịch sử :
Tỉnh Cao Bằng cùng với tỉnh Lạng Sơn thời nhà Lý-nhà Trần được gọi là châu Quảng Nguyên. Vùng đất này (Lạng Sơn + Cao Bằng) chính thức phụ thuộc vào Đại Việt từ năm 1039, đời vua Lý Thái Tông, sau khi đánh đuổi được Nùng Trí Cao.
 
Dân số và các dân tộc thiểu số :
  • Dân số toàn tỉnh là 507.183 người (theo điều tra dân số ngày 01/10/2009). Dân số trung bình năm 2009 là 510.884 người.
  • Các dân tộc ở Cao Bằng gồm Tày (chiếm 41,0% dân số), Nùng (31,1 %), H'Mông (10,1 %),
    Dao (10,1 %), Việt (5,8 %), Sán Chay (1,4 %)... Có 11 dân tộc có dân số trên 50 người

Phong tục của người H'Mông

Tập tin:Chocaobang.jpg

Một khu chợ Vùng Cao

Danh lam thắng cảnh và du lịch:
 
Tập tin:Ban Gioc - Detian Falls2.jpg
 

Thác Bản Giốc.

Nằm ở phía bắc vùng Việt Bắc, nơi địa đầu Tổ quốc, Cao Bằng được thiên nhiên ưu đãi những tiềm năng du lịch phong phú.
 
Thắng cảnh :
Cao Bằng có núi, rừng, sông, suối trải dài hùng vĩ, bao la, thiên nhiên còn nhiều nét hoang sơ, nguyên sinh. Khu vực thác Bản Giốc là một thắng cảnh đẹp. Thác nằm trên dòng chảy của sông Quây Sơn, thuộc xã Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh. Động Ngườm Ngao (hang hổ), thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh là thế giới của nhũ đá thiên nhiên gồm hàng nghìn hình khối khác nhau, có cái như đụn gạo, đụn vàng, đụn bạc, hình voi, rồng, hổ báo, mây trời, cây cối, hoa lá, chim muông. Ngoài ra phải kể đến hồ núi Thang Hen ở huyện Trà Lĩnh.
 
Du lịch văn hoá:
  • Cao Bằng là vùng đất có truyền thống cách mạng lâu đời, là nơi cội nguồn của cách mạng Việt Nam. Tiêu biểu như khu di tích lịch sử cách mạng Pác Bó, thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng. Nơi đây Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt chân về nước, sống và làm việc, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành độc lập cho dân tộc từ năm 1941 đến 1945.
  • Khu di tích Kim Đồng được xây dựng gồm có mộ anh Kim Đồng và tượng đài khang trang tại chân Rặng núi đá cao đồ sộ, tượng đài anh Kim Đồng với bộ quần áo nùng và tay nâng cao con chim bồ câu đưa thư, trước tượng đài có 14 bậc đá và 14 cây lát vươn cao xanh ngắt. Nơi đây có một khoảng sân rộng, hàng năm thiếu niên và Nhi đồng của tỉnh Cao Bằng, cả nước thường tụ hội tại đây cắm trại, vui chơi ca hát. 
  • Khu di tích lịch sử Rừng Trần Hưng Đạo, nơi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam

Thác Bản Giốc bên Ruộng lúa đẹp ngỡ ngàng

Tập tin:Cautreocaobang.jpg

Cầu Treo tại thành phố Cao Bằng

Tập tin:567 Kegel.JPG

 

Tập tin:CaoBang.jpg

Núi Non Tại Cao Bằng

Tập tin:558 Morgenstimmung in Cao Bang.JPG

Sông Bằng

ĐẶC SẢN CAO BẰNG 

Phở chua Cao Bằng

Phở chua Cao Bằng ngoài ngon vì độ dẻo của bánh, vị bùi của gan hoà với độ béo của thịt ba chỉ, vịt quay... còn có vị ngậy của mỡ vịt, vị chua cay man mác của măng ớt, vị bùi của lạc và khoai, thơm của mác mật.
Phở chua gắn liền với hai địa danh Lạng Sơn và Cao Bằng nhưng nhiều người khẳng định nó chính là món đặc sản của riêng vùng đất Cao Bằng và được liệt vào danh sách những món ăn đặc sản Việt Nam.
 
 
Làm được món phở này cũng khá công phu. Bánh phở phải làm sao vừa dẻo vừa dai. Gan lợn dùng cho phở chua thái mỏng, rán sém mặt thì vừa. Dạ dày lợn, trước khi rán nên luộc qua để vẫn chín mà không quắt. Thịt ba chỉ, rán giòn bì, mầu vàng sậm mới đẹp mắt. Vịt Thất Khê đem tẩm ướt rồi quay...
Xếp bánh phở ra bát, bên trên xếp những lát gan, lạp sườn được rán cháy cạnh, thêm nữa là vài lát thịt ba chỉ, dạ dày lợn đã được rán vàng cùng những miếng thịt vịt quay vàng rộm, trên được điểm mấy ngọn rau thơm, chút lạc ràn đập dập, miến, khoai tầu thái chỉ chao giòn.

Đủ những thứ đó thì rưới lên trên một chút nước sốt, được chế từ nước lấy trong bụng con vịt quay pha với một chút dấm, tỏi, đường và bột báng. Khi ăn, trộn đều bát phở, thêm chút mác mật ngâm măng ớt.
 

Phở chua Cao Bằng ngoài ngon vì độ dẻo của bánh, vị bùi của gan hoà với độ béo của thịt ba chỉ, vịt quay... còn có vị ngậy của mỡ vịt, vị chua cay man mác của măng ớt, vị bùi của lạc và khoai, thơm của mác mật. Phở chua còn ăn kèm rau thơm, rưới nước sốt chua ngọt rất hấp dẫn. Ăn vào lúc tiết trời se lạnh thì ấm lòng, mùa nóng lại có cảm giác thanh mát nhờ vị chua của nước sốt. Chẳng thế mà ăn hết tô, vị chua đọng lại nên vẫn thấy chưa no, vẫn muốn ăn thêm. Phở chua ăn một lần còn lạ miệng, đến hai lần, ba lần sẽ trở nên nghiện hương vị độc đáo của nó. 

Bánh coóng phù Cao Bằng

Mùa đông, nếu đến Cao Bằng, buổi tối dạo trên những con phố nhỏ của thị xã miền núi này, bạn sẽ thấy những hàng quà đêm bên đường. Ánh lửa bập bùng trong bếp lò. Người ăn xúm xít vây quanh. Đó là những hàng bán bánh coóng phù.
 
 
Thực ra, bánh coóng phù chẳng xa lại gì với mọi người. Coóng phù (còn có tên khác là thoóng phù, phù noòng) tiếng Tày, Nùng nghĩa là bánh trôi.
Thoạt nhìn, coóng phù của người miền núi cũng không khác bánh trôi của người miền xuôi là mấy. Cũng là gạo nếp xay thành bột nước, đựng trong túi vải cho róc hết nước rồi nhào bột cho dẻo, vo viên, thả nước sôi… Nghĩa là cách làm cũng giống như làm bánh trôi vậy. Nhưng coóng phù ở đây có nhân là lạc rang giã nhỏ nấu với đường đỏ. Có người lại làm nhân bánh bằng đỗ xanh nấu chín trộn đường kính trắng. Không giống như ở miền xuôi, nhân bánh chỉ là một viên đường đỏ.
 
 
Bánh khảo Cao Bằng
Bánh khảo được làm nhiều nhất vào dịp tết và được xem như một thứ kẹo tết của người dân tộc Tày, tỉnh Cao Bằng.
Cứ độ 20 tháng chạp, các nhà trong bản lại rục rịch làm bánh khảo đón Tết Nguyên đán. Với người Tày, tết mà không có bánh khảo thì chẳng là tết nữa.
Để lâu mà vẫn giữ được hương vị thơm ngon, không bị mốc, thiu nên bánh khảo tựa như một thứ lương khô ngọt ngào của người Tày. Họ làm bánh khảo thay kẹo, để ăn tết, mời khách tới thăm nhà.
Để có được những phong bánh khảo thơm phức phải trải qua thật nhiều công đoạn. Nào là chọn gạo nếp, rang gạo, xay nhỏ bằng cối đá, đổ bột vào cái mẹt lót giấy đem hạ thổ.
Nguyên liệu làm bánh khảo chủ yếu là gạo nếp. Chọn loại gạo nếp ngon, thơm, hạt tròn mẩy rồi đãi sạch. Tiếp đó là rang gạo. Rang gạo phải cẩn thận vì nếu rang chưa đủ độ chín thì bánh sẽ không đủ độ thơm. Còn nếu rang gạo cháy vàng quá thì bột xay màu sẽ bị sẫm lại, bánh mất mùi thơm. Đổ gạo nếp đã chín vào cối đá xay mịn. Bột càng mịn bánh càng ngon.
 
Photobucket
 
Công đoạn ủ hay còn gọi là hạ thổ cũng chẳng kém phần quan trọng. Người Tày thường chọn một góc khuất trong nhà, quét sạch và vảy một chút nước cho có độ ẩm, lót vài lớp giấy to bản hoặc giấy báo rồi trải đều bột. Lấy giấy phủ lên trên bột, cứ thế hạ thổ khoảng bốn, năm ngày cho bột hút đủ ẩm, ỉu ra là có thể đem đóng khuôn bánh.
Ai đã từng thưởng thức bánh khảo chắc chắn không thể quên vị ngọt ngào của loại bánh này. Đường dùng làm bánh thường là đường kính hoặc đường phèn. Nếu là đường phèn thì phải chọn những miếng đường vàng rộm, giã thật mịn. Đường có mịn khi trộn với bột mới tạo độ kết dính cao. Công đoạn hạ thổ bột, những người làm bánh có kinh nghiệm thường không ủ cùng đường vì sẽ làm bánh bở, không ngon.
Bột và đường trộn lẫn với nhau, sau đó dùng khúc gỗ tròn như cái chày chà đi chà lại cho bột ngấm đường, tơi xốp. Muốn thử xem bột và đường đã đủ độ kết dính chưa, người ta thường nắm một nắm bột nhỏ thả xuống mâm xem có bị vỡ không. Nắm bột rơi xuống vẫn còn nguyên là được.
Muốn bánh khảo thêm ngon, thêm bùi, người Tày thường trộn thêm nhân lạc, vừng hoặc thịt mỡ. Vừng đen hoặc lạc rang giã nhỏ, cầu kỳ hơn thì luộc chín mỡ lợn, thái hạt lựu rồi đem ướp với đường kính. Như vậy, bánh khảo vừa có được hương thơm của gạo nếp, bùi bùi của vừng lạc, vị ngọt của đường kính và béo ngậy của mỡ. Tất cả hòa quyện với nhau tạo thành một thứ hương vị đặc biệt không lẫn vào đâu được.
 
Photobucket
 
Bánh sau khi đóng khuôn xong cắt thành từng phong nhỏ, gói lại thật khéo bằng một lớp giấy đủ màu xanh, đỏ, tím, vàng. Chiếc bánh khảo giờ đây đã được khoác lên mình một chiếc áo vô cùng bắt mắt.
Bánh khảo từ lâu đã trở thành món ăn truyền thống của người Cao Bằng để lên bàn thờ cúng ông bà tổ tiên và đãi khách đầu năm mới, ngày lễ, tết. Đôi vợ chồng mới cưới ngày đầu năm về thăm bên ngoại, ngoài đồ lễ chẳng thể thiếu gói bánh khảo. Câu chuyện đầu năm mới trở nên thân tình, ấm cúng hơn khi nhấp ngụm trà nóng với phong bánh khảo thơm ngon.
Những huyện ở tỉnh Cao Bằng nổi tiếng có bánh khảo ngon là Hạ Lang, Quảng Hòa, Trùng Khánh.
 
Photobucket
 
Bánh khảo vừa là món ăn truyền thống của người Cao Bằng dùng để đãi khách trong những dịp lễ, tết…, vừa là món quà biếu khi khách lên thăm Cao Bằng hay gửi cho những người con xa quê.
 
Chè đắng Cao Bằng
Chè đắng, tiếng dân tộc gọi là Ché Khôm, là cây đặc sản quý hiếm có giá trị của tỉnh Cao Bằng.
Đã hơn 2000 năm, tinh hoa của đất trời được kết tinh trong lá chè đắng Cao Bằng. Cây chè đắng sinh trưởng và phát triển tự nhiên trong những cánh rừng trên đất Cao Bằng. Cây trưởng thành có thể cao tới 30m, đường kính có cây tới trên 1m.



Các nhà khoa học cho biết, trong lá chè đắng tươi có chứa 16 loại axít amin có tác dụng tăng cường quá trình trao đổi chất và có quan hệ chặt chẽ đến cơ cấu dinh dưỡng của cơ thể. Ngoài việc dùng uống như trà, thì chè đắng còn có giá trị về mặt dược liệu, dùng để chữa cảm nắng, tiêu viêm, giải độc, giải rượu, kích thích tiêu hóa, điều hòa huyết áp, kháng suy não…Từ xa xưa, người Trung Quốc đã dùng chè đắng để tiến vua.
Từ khi Công ty chè đắng Cao Bằng đi vào hoạt động và cung cấp sản phẩm chè đắng thì nhu cầu sử dụng chè đắng của nhân dân trong tỉnh và trong nước ngày càng tăng do người sử dụng đã thấy được giá trị của chè đắng. Chè đắng đã thực sự trở thành cây kinh tế mũi nhọn, một sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh tế cao mang lại lợi ích không chỉ cho bà con nông dân các dân tộc Cao Bằng mà tạo ra một sản phẩm độc đáo có giá trị của Việt Nam . Do vậy, tỉnh Cao Bằng đã xây dựng định hướng nghiên cứu phát triển cây chè đắng Cao Bằng để đáp ứng nhu cầu thị trường.
 
Hạt dẻ Trùng Khánh Cao Bằng
Một hình ảnh quen thuộc trên khắp các vỉa hè vào mùa đông giá lạnh là chảo hạt dẻ thơm phức, nóng hổi- hạt dẻ Trùng Khánh. Và cũng không nhiều người biết được rằng đây là thứ đặc sản của vùng đất Cao Bằng mang một hương vị riêng mà không nơi nào có được.
Hạt dẻ Trùng Khánh nổi tiếng đã đi vào sách giáo khoa môn Văn của học sinh cấp I (nay là cấp tiểu học) vào những năm 60 của thế kỷ trước nhưng ít ai có duyên được thưởng thức món ẩm thực chính hiệu độc đáo này, nếu có cũng rất là hiếm hoi. Bởi  thứ quả này chỉ có ở vùng đất biên cương Lạng Sơn, Cao Bằng mà thôi. Hơn nữa, bà con Tày, Nùng trồng theo lối quảng canh nên sản lượng không đáng kể. Ngay tại thị xã Cao Bằng, ai may mắn lắm mới mua được đúng hạt dẻ Trùng Khánh, mà phải tháng Chín,  tháng Mười hàng năm vì đây là mùa thu hoạch.
 
 
Ngày nay, thứ quả đặc sản này tràn lan ra khắp cả nước thậm chí sang cả Quảng Đông, Quảng Tây(Trung Quốc). Nhưng nhìn kĩ thì thấy hạt dẻ to, tròn, mỏng vỏ, bóng bẩy và rốn không có lông tơ. Khi luộc chín, không có mùi thơm. Nhưng thịt nó rất ngọt. Ngọt như trộn đường. Điều dễ nhận biết nhất là hạt dẻ nhái bán quanh năm. Mùa nào cũng có. Hạt dẻ ấy mang đi bao xa, đi bao lâu cũng không bao giờ sợ bị thâm bị thối.
 
Bánh trứng kiến Cao Bằng
Là loại bánh đặc trưng của dân tộc Tày ở Cao Bằng thường có vào khoảng tháng 4, tháng 5 hàng năm. Đây là thời gian sinh trưởng mạnh của loại kiến đen trong rừng. Trong chuyến đi rừng, người Tày thường tìm loại trứng này về để làm món bánh trứng kiến (tiếng Tày gọi là pẻng rày).
Lấy được loại trứng này cũng là một kỳ công và phải là người có hiểu biết và kinh nghiệm, nếu không sẽ lấy nhầm loại kiến độc gây nguy hiểm khi làm bánh. Mỗi tổ kiến đen chỉ cho chừng 2 đến 3 chén trứng kiến. Vì thế để làm món bánh này, người Tày phải mất cả ngày đi tìm thứ "đặc sản" lạ lùng của núi rừng nơi đây. Trứng kiến đen ở rừng Cao Bằng rất mẩy, béo và có hàm lượng đạm cao.
 
 
Thành phần của bánh gồm bộp nếp nương, trứng kiến và lá non của cây vả.  Chọn lá làm bánh phải chọn loại lá bánh tẻ, không quá non và không quá già. Vì nếu lá non quá, lá dày khi hấp lên bánh chín thì lá nát không cầm được bánh, còn nếu lá già quá thì bánh ăn dai không còn vị thơm của lá.
 
Gạo nếp có pha một ít gạo tẻ để bột đỡ dẻo. Xay bột thật mịn, thêm nước vừa phải đảo nhuyễn với độ mềm vừa phải. Lá vả rửa sạch, bỏ phần gân lá ở mặt dưới rồi trải bột lên đó với độ dày vừa phải, chú ý không trải ra hết mép lá để khi hấp chỗ lá đó xoăn lại thành mép bột không tràn ra ngoài.
 
Trứng kiến đem phi mỡ lợn cho thơm, cho thêm ít lá hẹ rồi rắc lên lớp bột và gập đôi chiến lá lại kế đó đem vào khay hấp. Khi bánh chín đem ra để nguội rồi dùng kéo cắt ra từng miếng vuông vừa phải. Bánh trứng kiến ăn dẻo, thơm mùi lá vả, béo và ngậy mùi trứng kiến

Khẩu sli :
còn được gọi là bánh gạo nếp nổ hay bánh bỏng kẹp lạc, thường được ăn kèm khi uống nước chè xanh. Thứ bánh này là một trong những loại bánh đặc sản địa phương mà người Cao Bằng thường dùng để mời khách khi đến chơi nhà.
Cái tên bánh khẩu sli nghe lạ lạ vui tai khiến nhiều người nghe lần đầu tò mò. Khẩu sli thường có hình dáng to bằng viên gạch đỏ, lớp trên là lạc màu nâu bóng mượt , lớp dưới là bỏng gạo mịn màng. Qua nhiều công đoạn chế biến, hai lớp bánh dính chặt lấy nhau, ăn giòn tan, dẻo quẹo lại có vị bùi ngọt khiến cho nhiều du khách ăn một miếng mà vấn vương mãi cái hương vị lạ lẫm đó.
Nguyên liệu chính tạo nên bánh khẩu sli là gạo nếp, bột cám, lạc và đường phên, tất cả đều là nguyên liệu sẵn có của Cao Bằng. Nhưng để cho ra lò được một phong bánh cũng khá kỳ công, tỉ mẩn và tinh tế. Trước đây, chỉ khi có dịp quan trọng người dân nơi đây mới làm để cúng lễ, nhưng hiện nay, thứ bánh này đã được sản xuất nhiều để bán cho khách du lịch vừa quảng bá thương hiệu khẩu sli đi xa vừa phát triển kinh tế.
Thứ  gạo nếp, nguyên liệu chính để làm nên phong bánh khẩu sli phải là nếp ngon nhất, dẻo thơm. Ban đầu gạo nếp được đồ thành xôi, sau đó đem xôi trộn với cám gạo, thứ cám mới sát còn thơm phức, sao cho những hạt xôi tơi ra, không dính vào nhau. Đem thứ xôi trộn cám phơi dưới nắng cho những hạt gạo nếp săn lại rồi giã nhỏ. Với nguyên liệu đó đem rang trên chảo lửa, đảo đều tay cho những hạt nếp nở đều, giòn bung là có thể bắc xuống. Thứ bỏng rang này bấm phải kêu lách tách mới đạt tiêu chuẩn.
 
Đường phên để kết dính bỏng với nhau thường là thứ đường thẻ của địa phương to bằng bàn tay, thắng đường với nước tạo thứ mật sền sệt màu nâu. Khi thấy nước mật sôi sủi người ta trút bỏng đã rang vào đảo, sao cho thứ mật ôm chặt lấy từng hạt bỏng, trong sóng sánh vui mắt. Trút bỏng quyện mật vào khuân rồi cán sao cho thật chặt. Phủ lên trên lớp bánh là một lớp lạc đã rang, những hạt lạc sẽ được mật đường dính chặt lại, tạo một tầng màu nâu phủ lên trên. Cứ thể để vài tiếng cho bánh nguội là có thể cắt thành từng khúc và thưởng thức.
 
Xôi trám Cao Bằng
Từ xa xưa, nhân dân các dân tộc Cao Bằng đã đem quả trám đen chế biến thành món ăn độc đáo, trở thành sản vật ẩm thực mang hương vị riêng biệt núi rừng.
Khi tiết trời sang thu, bà con các dân tộc Tày, Nùng ở vùng Đông Bắc lên rừng hái trám. Lên Cao Bằng vào mùa thu, vào các bản làng của đồng bào sẽ có dịp được thưởng thức món xôi trám (khẩu nua mác bây).
Cách làm món này đơn giản lại thơm ngon, bổ. Trám có hai loại: trám trắng và trám đen. Trám trắng thường dùng làm mứt, kẹo, đậu sị, ô mai, dùng chữa ho, viêm họng giải khát chữa say rượu; còn trám đen dùng làm món ăn kho, sốt với cá, đậu phụ, có vị đậm đặc riêng. Nhưng chỉ có trám đen mới dùng làm xôi trám.
 
 
Vào tháng tám, tháng chín âm lịch, người dân lên rừng hái quả. Trám nấu xôi chọn quả chín mọng, không bị sâu, hái về ngâm vào nước ấm khoảng 25 đến 30 độ C một lúc cho mềm (nước nóng hơn trám sẽ không mềm). Trám om rồi đem bóc vỏ đen, lấy phần thịt bỏ hột, rồi trộn với xôi đã đồ chín đảo thật đều, nhuyễn, xôi có mầu hồng tím là được.
Xôi trám làm đơn giản nhưng ăn rất bổ, thơm, bùi và béo ngậy. Nếu chưa có điều kiện làm xôi, khi thu hái về xử lý quả trám bằng nước ấm, bóc lấy phần thịt đem sấy khô đựng vào lọ ăn dần.

 

CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH LIÊN QUAN

Khách hàng thân thiết

CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH THIÊN NHIÊN (NATURE TOURIST.,JSC)

ĐOẠT GIẢI THƯỞNG TOPFIVE 2011 & 2012 THƯƠNG HIỆU HÀNG ĐẦU TP. HCM
(Licence No: 79-070/2010/TCDL-GP LHQT cấp năm 2008)

 
Trụ sở chính:

info@1travel.com.vn
  (+84-28) 62611513 - 62611523
  (+84-28) 62611532
  1356 Đường 3/2, Phường 2, Quận 11, Tp.HCM

 
Chi nhánh:

1travel.com.vn@gmail.com
  (+84-28) 62980777 - 62980888
  (+84-28) 62680999
  365 Trần Phú, Phường 8, Quận 5, Tp.HCM

    

Lượt truy cập:

 
Văn phòng đại diện tại Thái Lan - WanThai Travel

wanthai888@gmail.com
  +66 76367187
  +66 76367197
  25/81 Moo 1 Chaofa Road Thambon Chalong Muang Districh Phuket, 83000 Thailand
HOT LINE
1900636778